Tộc Văn Qua Các Giai Đoạn Biến Động Của Dân Tộc, Văn Viết Thiện

Standard
Tổ Đình Họ Văn, Nghệ An

Tổ Đình Họ Văn, Nghệ An

Cảm ơn bài viết về dòng họ của chú/ anh Văn Viết Thiện. Bài viết mang nhiều giá trị tham khảo cho các cá nhân trong dòng họ.

Xin được chia sẻ thông tin của chú/ anh đến các cá nhân khác cùng dòng họ với nhau.

Văn Hải
Tp. Hồ Chí Minh

=======

Tộc Văn Qua Các Giai Đoạn Biến Động Của Dân Tộc

I.- Thời kỳ Văn Tộc chưa có sử sách . Như trên đã trình bày. Dân tộc Việt Nam bị người phương Bắc đô hộ ngót hơn mười thế kỷ. Đến năm 938 Ngô Quyền (899-944) với chiến thắng Bạch Đằng, đã kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc. Trên đây là thời kỳ đen tối nhất cử lịch sử dân tộc Việt Nam trong thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên. Có thể không một họ tộc nào có thể hình thành và phát triển được, và Văn tộc chúng ta cũng không nằm ngoài hoàn cảnh đó. Cho nên việc tìm ra nguồn cội của dòng tộc là một điều hết sức khó khăn.

Tộc Văn Qua Các Giai Đoạn biến động của Dân Tộc

II.- Thời kỳ Văn Tộc có sử sách.

Những vị Họ Văn tiêu biểu qua các thời kỳ của dân tộc:

1.-Gai đoạn binh biến.

a.- Nhà Tiền Lê (980-1009)

– Cuối hế kỷ thứ 10. Do tình hình lục đục trong dòng họ nhà Ngô và chính quyền trung ương, các thổ hào nhiều nơi nổi dậy, mổi người hùng cứ mổi vùng, đem quân đánh lẫn nhau “-Giai đoạn đó sử chép là: Loạn 12 sứ quân” .Sau khi Đinh Bộ Lĩnh (924-979) dẹp yên (967). Không chịu khuất phục Đinh Bộ Lĩnh, một số thổ hào đã lánh nạn sang phương Bắc. Đến năm 996 nhà Tống trao trả cho Đại Việt hơn 100 người, trong số đó có người dòng họ Văn, đó là Ông Văn Dũng ở trấn Triều Dương (huyện Hải Ninh tỉnh Quảng Ninh).

(Trích Việt Nam những sự kiện lịch sử từ Khởi thủy-1858 trang46,47 )

b.- Nhà Trần (1226-1400)

– Đầu thế kỷ 13. Đời nhà Trần (1226-1400) vào năm 1250 Văn tộc ta có Ngài Văn Thể có công lớn dẹp giặc được phong chức “Chế Đại Vương” – như một qua Vua – con cái của Ông đều có công lớn dẹp giặc đều được phong quyền cao chức trọng.

Vua tôi nhà Trần có ý e ngại về tương lai của mình đối với giòng họ Văn nên đả mất nhiều công lao tìm hiểu về sự vinh hiển của giòng họ này.

Được người Trung Quốc cho biết Họ Văn có mộ Tổ tại núi Sứ huyện Quỳnh Lưu đã lâu đời, phổ ý thất lạc mất lưu truyền không hiểu đến Hiệu của Ông Tổ đó. Mộ này đời đời phát khanh tướng.

(Bài viết của Ông Văn Đức Giai – Tiến sỹ đời Tự Đức)

c.- Nhà Hậu Lê (1428-1527)

–  Cuối thế kỷ 15. Đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27, có Ngài Văn Vỹ sinh năm 1470 tại xã Ái Vũ huyện Bạch Hạc – nay thuộc xã Đại Tự-Vĩnh Lạc-Vinh Phú. Năm Ông 27 tuổi Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ (bia đá Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội số: 1310). Làm quan đến chức Hình Khoa Đô Cấp Sự Trung.

– Văn Tướng Công Bao phong hoạn mậu Trung Khạc Đại vương (?-?). Đậu Tiến sỹ năm 1484 (năm Hồng Đức thứ15). Ông làm quan ở Sơn Tây-Tuyên Quang-Hưng Hóa.

( theo gia Gia phả Chi Lạc Phố)

d.- Chiến tranh Lê-Mạc (1527-1592)

– Đầu thế kỷ 16.

(tìm kiếm thêm cho giai đoạn lịch sử này của Văn Tộc…………..)

e.- Trịnh –Nguyễn phân tranh (1558-1786)

-Cuối thế kỷ 16.

-Ông Văn Viết Nhụ. Giử chức Cai Tri Phó Tướng Thắng Lộc Hầu, Người cùng với các vị Thủy Tổ các họ Đặng, Bùi, Nguyễn, … có công khai phá cả vùng đất rộng lớn bao gồm: Hà Trung, Hà Thượng, Hà Trữ, Hà Chiêu, Hà Đá, Hà Úc, Hà Thanh….thuộc Huyện Tư Vinh, Phủ  Thuận Hóa.(1587)

-Đầu thế kỷ 17

(tìm kiếm thêm cho giai đoạn lịch sử này của Văn Tộc……………)

f.- Khởi nghĩa Lê Duy Mật(1739-1770)

-Đầu thế kỷ 18. Đời vua Lê Dụ Tông (1705-1729) có Ông Văn Đình Dận (1703-1754) là con trai của Cổn Quận Công Văn Đình Nhậm (?-?) thi đỗ Tạo Sỹ Xuất Thân (Tiến Sỹ Võ) vào năm 22 tuổi – Năm Bảo Thái thứ 5 (1724). Ông được cử làm lưu thủ các trấn Tuyên Quang, Sơn Tây.

Năm 1740. Trịnh Doanh (1740-1767) đem cả đại quân đàn áp các phong trào khởi nghĩa khắp nơi, Thăng Long bỏ trống. Nguyễn Cừ , Nguyễn Tuyễn (em ruột Nguyễn Cừ) cùng tướng Trần Thiện đem quân chiếm Thăng Long, Ông đem quân cứu nguy cho chúa Trịnh và được thăng chức Điều Quận Công. Khi mất Ông được truy tặng Đại Vương, phong Phúc Thần.

Họ Văn ở Lạc Phố có nhiều đời làm tướng như Văn Đình Ức, Văn Đình Lượng, Văn Đình Toại, Văn Đình Cung. Đương thời xưng tụng là “Hương Sơn Thế Tướng”.

-Năm 1745. Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) Cảnh Hưng năm thứ 5. Họ Mạc từ Long Châu (Trung Quốc) đem quân về vây hãm Thái Nguyên. Lưu thủ Văn Đình Ức (Con Ông Văn Đình Dận) cùng Thống lĩnh Hoàng Ngũ Phúc giải vây được trấn thành. Ông Được phong tặng Quản Quận Công.

(Trích Việt Nam những sự kiện lịch sử từ Khởi thủy-1858 trang 334)

-Ông Văn Đình Lượng và Văn Đình Toại-(Con Ông Văn Đình Dận) đều đỗ Tạo Sỹ Võ và đều cầm quân.

– Ông Văn Đình Cung (cháu Ông Văn Đình Dận) đỗ Tạo Sỹ Võ giữ chức Binh Phủ – là con rễ Chúa Trịnh.

-Cuối thế kỷ 18.- Hiện Sinh Tú Tài Văn Sỹ Vệ con Ông Văn Sỹ Đức (Phái Quỳnh Thiện) mộ quân đi giúp Hoàng Tử Lê Duy Mật (con trai tứ 10 của vua Lê Dụ Tông). Được phong là Quận Công.

-Ông Cường Vụ Hầu Văn Cường (?_?). Thời Hậu Lê-Vua Lê Chúa Trịnh, có công lớn dẹp giặc được phong Quận Công. Ông có 5 người con cũng có công dẹp giặc yên dân, được quền cao chức trọng, phú quý vinh hiển.

(Bài viết của Ông Văn Đức Giai – Tiến sỹ đời Tự Đức)

2.- Văn Tộc qua các cuộc di dân của dân tộc,

Hành trình mở mang bờ cõi về phương Nam của dân tộc Việt Nam mang âm hưởng bi và hùng. Thời gian có thể làm cho sông cạn đá mòn nhưng những dấu chân của Tổ Tiên đễ lại trên vùng đất phương Nam không thể xóa nhòa, cho dù trãi qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.

Trong công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam của dân tộc Việt Nam, qua các sự kiện lịch sử, từ thời Nhà Lý – Lý Thường Kiệt (1069) thời Nhà Trần (1306) với sự kiện Công Chúa Huyền Trân, công cuộc chinh phạt Chămpa của Nhà Lê (Lê thánh Tông) với 26.000 quân cả thủy lẫn bộ vào năm (1470) và thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh năm (1558).

Đất nước Việt Nam thăng trầm qua nhiều giai đoạn lịch sử. Chiến tranh xâm lược và nội chiến, sự khắc nghiệt của thời tiết.

-Từ ngoại xâm của phương Bắc đến xâm lược của phương Tây.

-Từ nội chiến giữa Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn từ thế kỷ 16-18. và hai miền Nam-Bắc của thế kỷ 20.

– Các cuộc khủng hoảng kinh tế của các năm Kỷ Mùi 1558 và Mậu Thân 1608

a.- Di dân qua các cuộc Nam tiến.(1306-1470)

Là Công, Hầu, Khanh, Tướng từ thời nhà Trân đến thời  nhà Nguyễn, những dấu chân của tiên tổ chúng ta đã có tứ đất Thuận Quảng cho đến cực Nam của Đại Việt  vào khoảng thế kỷ 15-16, đông nhất là vào giửa thế kỷ 16.

Hiện nay một số hòm bộ về sự hình thành làng mạc tai vùng đất Thuận Hóa như các làng Long Phú-Quảng Trị, Sơn Tùng, Lai Trung, Quảng Điền,  Hà Trung  thuộc Thừa Thiên-Huế được ghi chép vào thế kỷ 15 là các vị tiền khai canh của làng. Trong các văn tế của làng trên tên tuổi của các vị họ Văn được xướng danh đầu tiên.

Theo bản dịch tài liệu có từ ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461) của 14 dòng họ đến làng Sơn Tùng Quảng Điền Thừa Thiên Huế phụng cúng thì tên của họ Văn ta đã có từ trước thời đó.

( trích Sơn Tùng địa phương ký – Văn Hữu Tuất sưu tầm)

b.- Di dân qua chiến tranh giửa Trịnh-Nguyễn.(1558-1786).

Giai đoạn này có hai dòng di dân:

·        Di dân do chiến tranh

Theo văn tự đễ lại.

Gia phổ chi Thạch Động do tú tài khoa Mậu ngọ (1858) là Ông Văn Đức Lệ  ( tiểu chi Quỳnh Đôi) viết lại như sau:

“ Họ ta cựu quán Hoàng Mai, phát tích mộ Tổ Sứ Sơn khoa hoạn các triều đời nào cũng có. Nói về văn khoa thì có Thị Giảng Thiện Tu Quốc Sỹ như Ông Văn Đình Dận thời Lê, và những giám sinh, tiến sỹ, cử nhân, hiệu sinh, tú tài. Về Võ thì có sắc đô đốc, đô chỉ huy sứ, thượng tướng, đại tướng, quận công, hầu, bá,…có vị được tặng phong phụ quốc công thần và đại vương.

Đến lúc thời vận nhà Lê suy, Trịnh Kiểm cầm giữ binh quyền hoành hành trong thiên hạ mưu đồ cướp ngôi nhà Lê. Trịnh Kiểm bèn lập mưu ám hại và truy lục những trung thần, giết những hoàng thân đế thích. Thấy các vị họ ta một niềm trung thành với nhà Lê. Trịnh Kiểm bèn lập mưu ám hại , sai người yểm mộ Tổ họ ta. Hoàng thúc nhà Lê là Lê Duy Mật khởi nghĩa để trừ Trịnh Kiểm, giành lại địa vị cho nhà Lê. Các vi họ ta đã đem quân bản bộ theo Lê Duy Mật vào trấn thủ ở Hà Tỉnh, đóng đồn ở Trỉnh Quang, xây thành, đắp lũy, chiêu tập nghĩa sỹ, kiên thành cố thủ khoảng vài mươi năm Trịnh Kiểm không đánh lại. Sau lập mưu mua chuộc gia tướng là Lại Thế Chiêu mở cửa hậu làm nội ứng cho quân của Bùi Thế Đạt tràn vào. Nội ứng ngoại hợp; Lê Duy Mật chống không nổi phải tự vẫn. Các vị họ ta chạy tứ tán. Vị thì về ở ẩn tại Lạc phố Hương Sơn. Người thì về Thanh Chương Nam Đàn, Vị thì về cựu quán Hoàng Mai. Vị thì vào Thuận Hóa, người thì ra Thanh Hóa, Hà Đông……Người thì cải tên, đổi họ ẩn lánh khắp nơi.

Năm 1775 quân Trịnh chiếm thành Phú Xuân (thủ phủ của Chúa Nguyễn Ở đàng trong), một lần nữa Họ tộc ta cũng bị ảnh hưởng ly tán, các Văn Tộc ở các vùng Nam Trung Bộ chắc có lẽ cũng khởi đầu vào giai đoạn này.

Đến triều Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ tư khoa Giáp thìn (1884), Ông Văn Đức Giai hội thi đậu Tiến sỹ. Sau đó đi kinh lược ba kỳ mới chiêu tập về Hoàng Mai-Thiện Kỵ, làm nhà thờ (cạnh bờ sông) hàng năm đến ngày 16-11 đều thảy các Chi về tế gọi là lễ Đông chí; bầu Thiện Kỵ làm chi trưởng để coi sóc mộ Tổ và nhà thờ, cũng như lo việc tế lễ hàng năm”.

( CN Sử học: Văn Đức Hòa- Một số khảo cứu về Đại Tộc Văn – sưu tầm)

·        Thấy giòng giỏi Họ Văn qua các triều đại từ đời Nhà  Trần đến Nhà Lê :

-Về văn: có Thị Giảng, Thiện tu quốc sỹ, Giám sinh, Tiến sỹ, Cử nhân, Hiện sinh, Tú tài….

– Về võ: có sắc phong Đô đốc, Đô chỉ huy sứ, Thượng tướng, Đại tướng, Quận công, hầu, bá……có vị được tặng phong Phụ quốc công thần ,Đại Vương.

. Chúa Trịnh cho người vào xem ngôi mộ ở núi Sứ. Sau khi biết được ngôi mộ , vệ sỹ về tâu với Chúa Trịnh là mộ phát vương, Chúa Trịnh cho người vào yểm phá. Lúc đó Cường Quận Công đã mất nhưng ân oán đã làm cho tay sai Chúa Trịnh thất vọng.

·        Di dân do kinh tế.

a.- Từ vùng Thanh-Nghệm vào đất Thuận Hóa.

Điều kiện thuận lợi khách quan thúc đẩy quá trình di dân của thế kỷ 15 (1428-1436) và 17 (1608). Đó là vùng đất mới, được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt thì ngược lại thì tại vùng Thanh-Nghệ vào năm Kỷ mùi (1558) bị lũ lụt, nhân dân lưu tán vào Nam, hay vào năm Mậu thân (1608) trong khi Thuận Hóa được mùa to thì bấy giờ từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt, nhiều dân xiêu dạt chạy về.

b.- Từ Thuận Hóa Vào các vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

-Vào năm Nhâm Thân (1752). Ở Đàng Trong: dân bị đói, người chết nhiều, giá gạo lên cao.

– Mùa đông năm Giáp Ngọ (1774) nạn đói lớn xảy ra tại Thuận Hóa, xác người chết đầy đường

(Trích Việt Nam những sự kiện lịch sử từ Khởi thủy-1858 trang 339 và 352)

Trên đây là các giai đoạn đen tối nhất của Văn tộc chúng ta: anh em thất lạc, Tổ tiên mất mối, mai danh ẩn tích lánh nạn. Vì vậy cho đến nay vẫn chưa nhập nối được gia phổ để biết được thế thứ, ngọn ngành, anh em.

Tác giả bài viết: Văn Viết Thiện
Nguồn tin: Văn Viết Thiện

Đại tướng Văn Tiến Dũng

Đại tướng Văn Tiến Dũng, cái tên gắn liền với lịch sử đường Trường Sơn huyền thoại.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s