Y Ngông Niê Kdăm Người Con Ưu Tú Của Tây Nguyên

Standard
Y Ngông Niê Kdăm

Y Ngông Niê Kdăm, Người con ưu tú của Tây Nguyên


Y Ngông Niê Kdăm Người Con Ưu Tú Của Tây Nguyên

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Gần một năm sau, ngày 3/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tổ chức Bộ Nội vụ, trong Bộ Nội vụ có Nha Dân tộc thiểu số với nhiệm vụ “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”.

Chiểu sắc lệnh số 58 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy hoạt động của Nha Dân tộc thiểu số. Các ông Hoàng Văn Phùng, dân tộc Tày, Y Ngông Niê Kdăm, dân tộc Êđê được giao giữ chức Giám đốc và Phó giám đốc Nha Dân tộc thiểu số.

Hồi đó ông Y Ngông Niê Kdăm 24 tuổi. Là một trí thức trẻ sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia phong trào của học sinh, sinh viên; tham gia phong trào Hướng đạo sinh khi học Trung học Thành Chung ở Quy Nhơn; tham gia tổ chức thanh niên yêu nước khi học ở trường Y sĩ Đông Dương tại Sài Gòn và tham gia Mặt trận Việt Minh tại Buôn Ma Thuột ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công ông được cử làm Phó Chủ tịch lâm thời tỉnh Đắc Lắc.

Ngày 6/1/1946 bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tỉnh Đắc Lắc có hai đại biểu trúng cử là Y Ngông Niê Kdăm và Y Wang Mlô Duôn Du. Ông Y Ngông Niê Kdăm là đại biểu Quốc hội từ khoá 1 tới khoá 9. Sau đó ông đã được bầu vào Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, được cử làm Uỷ viên Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, thứ V ông đã được bầu vào Ban chấp hành Trung ương.

Tại quê hương Đắc Lắc, ông Y Ngông Niê Kdăm đã từng kinh qua các chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, rồi làm Bí thư Tỉnh uỷ trước khi chuyển sang làm Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Nguyên. Ngược thời gian, ông đã từng làm Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc khu học xá Quế Lâm (Trung Quốc), Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Danh hiệu Nhà giáo Nhân dân là ghi nhận công lao to lớn mà ông đã đóng góp cho công tác giáo dục đào tạo nhất là đào tạo học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhớ đến những đóng góp của ông đối với nhiệm vụ đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên, các cán bộ lãnh đạo và giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên không quên được sự kiện học sinh dân tộc học xong trường cấp III Buôn Ma Thuột được tuyển vào học các khoa Y, Nông nghiệp, Lâm nghiệp của Đại học Tây Nguyên, niên khoá 1979-1980. Cũng vào dịp đó, Đoàn của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp do đồng chí Bộ trưởng dẫn đầu vào thăm trường. Thấy trường có nhiều sinh viên người dân tộc ngồi học trên các giảng đường, Bộ trưởng hỏi Hiệu trưởng:

– Các em người dân tộc đều có thi vào và đủ điểm chuẩn cả chứ?

Đồng chí Hiệu trưởng thật thà trả lời:

– Các sinh viên dân tộc có làm bài kiểm tra, kết quả là ít em đạt điểm chuẩn. Nhưng chỉ thị của Thường vụ tỉnh uỷ Đắc Lắc là cho các em vào học ở các khoa này.

Ngày hôm sau, Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp Bộ trưởng, cùng tiếp còn có đồng chí Trần Kiên, Bí thư tỉnh uỷ. Bộ trưởng đã hỏi:

– Con em các dân tộc vào Đại học Tây Nguyên trình độ văn hoá yếu, không bằng sinh viên người Kinh. Sau này tốt nghiệp, Bộ phân công công tác thì tỉnh nào nhận?

Chủ tịch tỉnh Y Ngông Niê Kdăm nhìn Bí thư Trần Kiên, nở nụ cười rất tươi nói với Bộ trưởng:

– Sau này các em tốt nghiệp, chúng tôi xin Bộ trưởng không đưa về Hà Nội, về bộ làm gì, cứ để lại cho Đắc Lắc, Tây Nguyên bố trí công tác. Vì các em chắc có yếu một số môn cơ bản, nhưng thực tế đối với khí hậu, con người, đất đai, tài nguyên, tiếng địa phương, lòng hiếu học, cần mẫn là thứ rất cần cho nhân dân các dân tộc. Họ sẽ rất tự hào khi có con em mình là bác sỹ, kỹ sư… Đưa các em về các buôn, trạm xá, nông trường, lâm trường thì chắc chắn sẽ phát huy được.

Thực tế sau này đa số các em sinh viên năm ấy, có người đã trở thành chủ tịch, phó chủ tịch huyện, nhiều người làm giám đốc, hoặc lãnh đạo có hiệu quả các nông, lâm trường ở vùng sâu, vùng xa. Bà con người dân tộc rất tin cậy, quý mến. Quả thực họ thích nghi với khí hậu, môi trường thổ nhưỡng, ít đau ốm, làm việc cho bà con mình nên công tác rất tốt.

Trường Ngô Gia Tự, Quảng Hiệp, Cư M'gar

Trường Ngô Gia Tự, Quảng Hiệp, Cư M'gar

Qua việc này thấy tầm nhìn chiến lược về sự phát triển của con người, vì lợi ích của đồng bào các dân tộc của ông Y Ngông Niê Kdăm. Còn nguyên Chánh văn phòng tỉnh uỷ Trần Trọng Khương, nhiều năm làm thư ký cho ông Y Ngông Niê Kdăm, trong thời gian ông là Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Hội đồng Nhà nước, Bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc thì không thể nào quên những ngày cùng Bí thư xuống cơ sở. Rất nhiều tháng có tới hơn 20 ngày Bí thư xuống các huyện, xã, buôn làng. Tới nơi nào ông cũng ra thực địa trước, xem xét đất đai, rừng, vườn, xem đồng bào sản xuất và nơi ăn ở. Sau đó mới là các chương trình làm việc với cấp uỷ, chính quyền và trực tiếp với dân. Đến các huyện, xã, buôn bao giờ ông cũng có ý kiến chỉ đạo, góp ý, hướng dẫn rất cụ thể, tính toán chi tiết trên cơ sở từng loại đất đai, khí hậu, góp ý với địa phương và bà con nên trồng cây gì, nuôi con gì cho phù hợp, để có giá trị kinh tế cao. Sau này nhiều huyện, xã, buôn kinh tế phát triển, đời sống của đồng bào được cải thiện. Những buổi ở lại buôn ăn cơm với đồng bào, không chỉ uống rượu cần, nghe đánh chiêng, mà ông còn cầm chiêng hoà cùng các nghệ nhân, khiến mọi người vui lắm. Những lúc ấy, ông hoà quyện vào tâm hồn và cuộc sống của người dân ở buôn làng. Là một cán bộ lãnh đạo cao cấp, đi xa quê hương hàng chục năm trời, nhưng ông không để mất bản chất chân thực và tâm hồn tốt đẹp của dân tộc mình.

Giản dị, chân thành, nhiệt tình và có trách nhiệm cao với công việc được giao, không hề vụ lợi, ông Y Ngông là một người con tiêu biểu của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, luôn chăm lo, mong muốn cuộc sống của người dân ở các buôn làng ấm no, hạnh phúc, theo kịp với đời sống vùng dân tộc đa số. Mọi việc làm của ông chỉ vì một mục đích làm cho quê hương đẹp hơn, đời sống đồng bào dân tộc tốt hơn, ấm no hơn.

Khi trái tim ông ngừng đập, trong điếu văn truy điệu người con yêu quí của quê hương, ai nấy được biết trong bản sơ yếu lý lịch của ông ông lấy bí danh là Nguyễn ái Việt – Người yêu nước Việt Nam, đó là lý tưởng, là hoài bão của cả cuộc đời ông. Trong hồi ký ông viết: “Điều sung sướng duy nhất của tôi là đã trọn đời làm theo lời Bác, xứng đáng là lớp thanh niên thế hệ mới của Cách mạng tháng Tám, lớp thanh niên dân tộc Tây Nguyên, con cháu của Bác Hồ Chí Minh”.

Ông như cánh chim đại ngàn vẫn lượn bay trên bến nước ông bà, trên sông suối, núi rừng, giữa Trường Sơn trùng trùng mây gió.

Hữu Chinh và Trần Trọng Khương
Source. Dân Tộc

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s