Sêrêpôk – Một Dòng Sử Thi

Standard
Sông Serepok, đoạn chảy ngang Buôn Đôn

Sông Serepok, đoạn chảy ngang Buôn Đôn. Dhung Cafe, Cư M'gar

Sêrêpôk – Một Dòng Sử Thi

Trong cuộc hành trình từ đầu nguồn cho đến nơi nó giã từ đất mẹ Tây Nguyên để đổ vào dòng Mê Kông tại ngã ba vùng Stungtreng trên đất bạn Campuchia, tôi đã nhận ra dòng sông Sêrêpôk vừa có nét lãng mạn, vừa có sự hồn nhiên, phiêu lưu, nhưng cũng đầy khao khát và dữ dội...

Miền đất phía nam dãy Cư Yang Sin trập trùng đồi núi, nơi giáp ranh của hai tỉnh Đác Lắc- Lâm Đồng là khởi nguồn dòng Krông Nô (sông đực, hay còn gọi là sông Cha). Dòng sông này bắt đầu chỉ là con suối nhỏ, len lỏi giữa mênh mông rừng già, lẫn các bãi bồi của các thung lũng hun hút gió để rồi chảy một vòng cung sang phía tây qua ba xã Krông Nô (huyện Lắc – Đác Lắc), Rô Men (Đăm Rông – Lâm Đồng) và Quảng Phú (Krông Nô – Đác Nông) trở thành dòng sông Cha mạnh mẽ, lắm ghềnh, nhiều thác.

Phía bên này dãy Cư Yang Sin, mạn hồ Lắc và Krông Bông có nhiều thác nước nhỏ chảy quanh năm trên lưng chừng núi và chúng đã hòa vào nhau thành suối, sau đó hợp thành sông Krông Na (sông cái, hay còn gọi là sông Mẹ) quanh năm đầy ắp nước và rất đỗi hiền hòa. Từ hai phía khác nhau, dòng Krông Nô và Krông Na gặp gỡ tại ngã ba Buôn Kuốp tạo ra nhiều thác nước kỳ vĩ như Dray Sáp, Dray Nur… đẹp tựa tranh vẽ, dù mùa mưa hay nắng vẫn không bao giờ dứt tiếng nước réo ầm ào vọng lên từ ghềnh đá. Già Ma Nghiên ở buôn Sa Luk (xã Krông Nô, huyện Lắc, Đác Lắc) bảo âm thanh ấy là tiếng của ngàn xưa để lại và nghe ra tựa như tiếng đàn đá N’dut Liêng Krak lần đầu tiên được tìm thấy ở đầu nguồn Krông Nô.

Đàn đá N’dut Liêng Krak được tìm thấy ở đây? Già Ma Nghiên gật đầu khẳng định rồi giải thích N’dut Liêng Krak theo tiếng M’nông nghĩa là nơi thác nước chảy qua nhiều tảng đá bằng phẳng và phát ra những âm thanh khác nhau. Ngay chỗ đoạn sông chảy qua buôn Sa Luk này, vào tháng 2-1949, Condominas được dân làng báo tin về những thanh đá lạ. Nhà dân tộc học người Pháp lừng danh này lập tức cho thu gom và sau đó được giới thiệu trên các tạp chí văn hóa và dân tộc có uy tín của Pháp và một số nước châu Âu. Và vào thời điểm đó, thật không thể ngờ rằng, đó là bộ đàn đá đầu tiên trên thế giới được tìm thấy. Cho đến bây giờ vẫn chưa thể khẳng định được bộ tộc nào là chủ nhân của bộ đàn đá này. Nhưng già Ma Nghiên chắc chắn một điều, dù là ai thì dân tộc M’nông của ông đã từng sống trong không gian này một thời gian rất dài, đủ để khám phá và sáng tạo ra loại hình nghệ thuật độc đáo thuộc hàng cổ xưa nhất của loài người. Bộ đàn đá được tìm thấy, nghĩa là âm thanh dâu bể của một “đời sông” này không đứt đoạn, cứ mải miết chảy xuyên qua thời gian…

Hồ Lak và Dãy  Núi Chư Yang Sin. Dhung Cafe, Cư Mgar

Hồ Lak và Dãy Núi Chư Yang Sin. Dhung Cafe, Cư Mgar

Những người bắt, thuần dưỡng voi nổi tiếng cũng đều được sinh ra bên dòng sông này

Đến bây giờ, dòng Sêrêpôk vẫn thế, hoang dã, bí ẩn và tràn đầy sức sống như một sinh thể sống động của miền đất phía Nam Tây Nguyên. Cư dân bản địa bao đời quần tụ sinh sống dọc theo hai bên bờ dòng sông này nói rằng, họ đã gắn bó với dòng sông thân thiết đến nỗi nghe ra “hơi thở” của nó phả vào đời sống của mình trong mỗi thăng trầm lịch sử. Quả thật, đó là dòng sông mang vóc dáng sử thi, bởi từ đầu mỗi giọt nước được chắt ra trong từng thớ đất đá của đại ngàn Cư Yang Sin, đến khi hòa mình vào dòng Mê Kông rồi lại xuôi trở về với chín nhánh của dòng Cửu Long trên đất Việt để đổ ra biển Đông, tôi đã thấy “đời sông” trùng phùng với đời người như một định mệnh. Bất cứ ai có dịp đi dọc theo dòng Sêrêpôk sẽ gặp rất nhiều buôn làng của các tộc người M’nông, Êđê, Lào… sinh sống bình yên và thân thiết với dòng sông.

Bếp lửa đỏ quanh năm trong mỗi ngôi nhà cũng nhờ nguồn thực phẩm dồi dào của dòng sông mang lại. Mỗi cộng đồng dân tộc, dù là bản địa, hay từ những nơi xa xôi khác tìm đến trong những lần viễn du khai phá miền đất mới đều được dòng sông ban tặng và tri ân cho nhiều giá trị vật chất, tinh thần không thể phủ nhận. Từ vật chất hiện hữu, cụ thể đến yếu tố văn hóa được sinh thành trong đời sống hàng triệu năm của mỗi tộc người – nơi dòng Sêrêpôk đi qua đều mang gương mặt và hơi thở ngàn đời của nó. Điều đó tôi đã thấy từ gia đình bà H’Bin ở Buôn Triết (huyện Lắc) và gia đình ông Y Krền ở Buôn Trấp (huyện Krông Na) ngày nay khi họ nhận từ tay tổ tiên, ông bà (cũng như nhận từ dòng sông) những ân huệ tối thiểu để sống bằng nghề chài lưới và nghề làm gốm cổ truyền từ rất lâu trên mỗi đầm lầy, bãi bồi mà dòng sông đã để lại. Những đứa con của bà H’Bin vẫn thoăn thoắt đan lưới vì cá tôm trên dòng sông này là quà tặng. Vợ ông Krền vẫn không quên nặn ra những sản phẩm gốm bằng tay được thừa kế từ đời này, sang đời khác.

Cuộc sống của những gia đình mà chúng tôi chứng kiến đã tự thân vẽ nên một diện mạo, sắc thái văn hóa rất riêng và độc đáo đến nỗi một số nhà dân tộc học, khảo cổ học trong và ngoài nước khi đến đây đã rất đỗi ngạc nhiên, rồi đặt ra giả thuyết rằng, vùng đất này (và cả Tây Nguyên) có phải là chiếc nôi của người tiền sử, cuộc sống của họ đã thật sự có mặt hàng nghìn năm nay? Giả thuyết này đã đi ngược lại với quan điểm trước đây cho rằng, cư dân sống bên dòng sông Sêrêpôk, cũng như trong các cánh rừng, ven khe suối kia là từ biển đảo vào (?!) Thế là nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra. Cho đến khi hai đợt khảo cổ được tiến hành tại Buôn Triết và Buôn Trấp vào năm 1993 và 1995 do GS Hoàng Xuân Thông (Viện Khảo cổ Việt Nam) khởi đầu đã khiến nhiều người quan tâm soi rọi lại vấn đề trên một cách cởi mở, hòa nhập hơn về thời gian, không gian văn hóa và lịch sử của các tộc người bên “dòng sử thi” này. Hai đợt khảo cổ đã tìm thấy hơn 300 hiện vật, trong đó phần nhiều là những mảnh gốm vỡ được làm từ đất sét và bã thực vật. Các mảnh gốm được miết trơn, khá tinh xảo và trên đó trang trí các hoa văn chấm dải, vỏ sò, vặn thừng… giống như hoa văn trên thổ cẩm của các tộc người bản địa. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho đây là một điểm đáng lưu ý trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa – xã hội của các tộc người đã gắn bó với dòng sông như một sinh thể đúng nghĩa. Ngoài ra hai cuộc khảo cổ trên cũng tìm thấy được rìu đá, bàn mài và đặc biệt là rất nhiều chài lưới dùng để bắt tôm, cá… đã cho phép các nhà chuyên môn nhận định rằng, địa bàn cư trú của con người ở đây thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới, có niên đại cách đây trên dưới 3.500 năm là vùng đầm lầy lắm sông, nhiều suối. Nguồn thực phẩm chủ yếu của họ là tôm cá cùng nhiều loại thủy sản khác. Mối dây liên hệ này tỏ ra hợp lý và đứng vững được khi nhìn lại không gian sống được tạo hóa bày ra trước mắt: một vùng Buôn Triết, Buôn Trấp rộng lớn với cá tôm nhiều vô kể và tất nhiên con người sống ở đó phải làm ra chài lưới để mưu sinh và tồn tại như dấu tích mà các nhà khảo cổ đã tìm thấy.

Nghề thuần dưỡng voi rừng nỗi tiếng tại Bản Đôn, Dak Lak, Bảo Hưng

Nghề thuần dưỡng voi rừng nỗi tiếng tại Bản Đôn, Dak Lak, Bảo Hưng

Từ góc nhìn khác về ngọn nguồn Sêrêpôk, vùng đất Buôn Đôn, nơi dòng sông chảy qua với chiều dài hơn 120 km về phía tây, sau đó đổ vào sông Mê Kông trên vùng đất Stungtreng đất bạn Campuchia là dấu nhấn độc đáo trong cái “phổ văn hóa rừng và sông” tiêu biểu. Trong những cuộc chinh phục, viễn du cùng dòng Sêrêpôk của các bộ tộc Lào, Cao Miên tìm nơi sinh sống luôn đi kèm với sự phát hiện các giá trị mới, sau đó họ sắp xếp (bổ sung, hoặc làm rạn nứt) các giá trị cũ mang theo để hình thành nên diện mạo đời sống xã hội tương thích với “phổ văn hóa” trên. Y Đông Kné (trước là cán bộ văn hóa huyện Buôn Đôn) gọi vua săn voi Y Thu bằng ông ngoại nói rằng, nhắc đến lịch sử vùng đất này thì không thể không nhắc đến dòng sông Sêrêpôk. Dòng sông này là gạch nối gần nhất, sau đó cứ rút ngắn dần theo thời gian để đưa văn hóa của các tộc người hòa trộn với nhau trong không gian đa chiều nhưng thống nhất và đầy màu sắc. Người Lào đã bắt tay với người M’nông bản xứ làm nên “huyền thoại Bản Đôn” với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi nức tiếng. Đáp lại, các nghi lễ truyền thống liên quan đến vòng đời và nền sản xuất nông nghiệp của người M’nông, Êđê tại chỗ đã dần thấm sâu và lan tỏa trong đời sống tinh thần của cư dân viễn du tìm về bên dòng sông này tụ họp. Sự hòa hợp này, theo Y Đông Kné là dễ thấy nhất từ những bến nước của các buôn làng dọc bờ sông Sêrêpôk. Ở đây, nếu bếp lửa đỏ quanh năm trong mỗi ngôi nhà làm nên sự sống truyền đời, thì bến nước là không gian gắn kết sâu đậm văn hóa của các cộng đồng dân tộc. Những bến nước trên dòng Sêrêpôk cùng thăm thẳm đại ngàn Yok Đôn với đầy đủ sản vật phong phú vào loại bậc nhất trên vùng biên này là cuộc “hôn phối” đặc biệt, đầy tiềm tàng hàm lượng văn hóa, đủ cho con người mà dòng sông và rừng già cưu mang bao đời nay tồn tại và phát triển. Giờ đây, Sêrêpôk vẫn chảy như đã từng chảy qua hàng triệu năm. Và trên từng chặng hành trình với “dòng sử thi” này, tôi đã đôi lần được nghe tiếng thầm thì của nó với đời sống con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay, chưa bao giờ ngừng nghỉ…

Nguyễn Đình
Báo Nhân Dân

This slideshow requires JavaScript.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s